Tình cảm và nguyện vọng của người làm ra gửi vào mỗi món ăn tạo nên giá trị và bản sắc riêng, đặc sắc, thuần túy và thấm đẫm tinh hoa. Hải sản hôm nay trúng mánh nè Tôm hùm, cá, mực thật nhiều nghe Mua vài kí mực toàn con lớn Kiếm muối trăm gram hột bự nè Xắt mực từng khoanh rồi rửa sạch Bằm hành, ớt, tỏi, muối chung se Cho lên chảo rán dầu đều nhé Xực nóng thơm ngon... chẳng phải dè. Ẩm thực theo nghĩa Hán Việt thì ẩm nghĩa là uống, thực nghĩa là ăn, nghĩa hoàn chỉnh là ăn uống. Đêm nào ghé đến.. chợ Bình Tây Tấp nập hàng rong.. bán chỗ này Chị Chệt đun nồi.. xâm bổ lượng Anh Tàu xóc chảo.. bột chiên đây Người ngồi ở ghế.. ăn thong thả Kẻ đứng nơi bàn.. uống vội thay Miếng bột chiên vàng.. ngon đáo để Hành, đu đủ sợi... chén no đầy. Những thực phẩm mang màu sắc tôn giáo cũng có những ảnh hưởng rất lớn tới ẩm thực. Mở rộng ra thì ẩm thực có nghĩa là một nền văn hóa ăn uống của một dân tộc, đã trở thành một tập tục, thói quen. Ẩm thực không chỉ nói về "văn hóa vật chất" mà còn nói về cả mặt "văn hóa tinh thần". Văn hóa ẩm thực giữ một vị trí khá quan trọng trong việc tạo sức hút cho một điểm đến. Trên thế giới, nhiều nước khá thành công trong việc định hướng phát triển du lịch kết hợp với ẩm thực như: Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia… Tại Việt Nam trong một vài năm gần đây, du lịch ẩm thực cũng là cái tên được quan tâm và nhắc đến khá nhiều, ẩm thực Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế lại mang một phong cách riêng, và rất đặc biệt. Món ăn Việt hầu hết được chế biến từ các loại rau, củ, quả, hạt, thủy, hải sản, và không quá nhiều thịt như món Âu, ít dầu mỡ hơn các món Trung, không cay như món ăn Thái… Đêm rồi nhậu xỉn.. quắc cần câu Sáng dậy ôi chao.. lại nhức đầu Rửa mặt thay quần.. cho tỉnh táo Lau mình đổi áo.. vẫn phờ râu Ngồi nghe mụ Rớt.. rao khàn cổ Đứng thấy o Rơi.. réo mặt ngầu Gọi một tô to.. đầy bún, thịt Xơi bò Huế nóng.. khoẻ gì đâu. |